Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

Mai mực làm thuốc

Hỏi: Nghe nói mực cũng được làm thuốc. Thực hư như thế nào?

(Nguyễn Văn Vui - Kiên Giang)

giải đáp: Mai mực còn gọi là hải phiêu tiêu, mai cá mực, ô tặc cốt.

Tên khoa học Sepia esculenta, Hoyle, Sepia anddreama Steen- Strup.

Thuộc họ Cá mực Sepiidae.

Ô tặc cốt là mai rửa sạch phơi khô của con mực nang hay mực ván hoặc của con mực ống mực cơm nhưng chính yếu là mực ngang hay mực ván vì mực cơm hay mực ống có mai nhỏ.Tên ô tặc vì theo sách cổ, con mực thích ăn thịt chim, thường giả chết nổi lên mặt nước, chim tưởng là xác chết bay sà xuống để mổ, bị nó lôi xuống biển ăn thịt, ăn thịt nhiều quạ do đó thành tên vì ô là quạ, tặc là giặc, cốt là xương, ý nói xương của giặc đối với quạ.

Tên hải phiêu tiêu vì vị thuốc giống tổ con bọ ngựa mà gặp ở ngoài bể (phiêu tiêu là tổ bọ ngựa).

trình bày con vật

Ở nước ta có nhiều loại mực, mực ống, mực nang, mực cơm… Mực là một động vật sống ở vùng nước có độ mặn cao, vùng đáy có cát pha bùn, nhất là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống giữa 2 cồn cát.

Mực sống thành từng đàn ở tầng nước đáy, khi kiếm mồi mới nổi lên tầng nước trên.

Hầu hết khi bơi lội trong nước, mắt mực lồi ra, màu da luôn luôn thay đổi theo màu nước để dễ lẫn tránh và bắt mồi. Lúc nguy biết thì mực hơi thụt lùi và phun mực ra, làm cho nước vùng đó đen lại kẻ địch hoa mắt rồi tìm cách ẩn.

Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy ánh sáng mực tập hợp rất đông. Mực rất thích ăn các loại trứng cá, tôm cá con và những động vật nhỏ khác trong nước.

Mùa phá hoang mực là các tháng 3 - 9 là thời kỳ mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ. cốt vào các tháng 4 - 6. Ngoài mai mực đánh bắt được người ta còn khai khẩn mai mực do mai các con mực to bị chết ở ngoài khơi, sóng gió thổi dạt vào bờ người ta vớt lấy.

Phân bố thu hái và chế biến

Miền biển nước ta nơi nào cũng có mực nhưng nhiều nhất là các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Ninh, Hải Phòng (mực ngang). Tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa có nhiều mực ống.

Sau khi bắt mực về, mổ lấy thịt, thường người ta vứt bỏ mai đi, ta chỉ việc nhặt lấy, rửa sạch chất muối, phơi khô dùng. Khi dùng, cạo sạch vỏ cứng, tán nhỏ vót thành từng thỏi nhỏ.

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ ô tặc cốt vị mặn tính ôn vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng thông huyết quản, khử hàn thấp, cầm máu. Dùng chữa thổ huyết máu cam đại trường hạ huyết nữ giới băng huyết, xích bạch đới, kinh bế, mắt mờ. Những người âm hư, da nhiệt không dùng được.

bây chừ ô tặc cốt là một vị thuốc đựơc dùng trong khuôn khổ nhân dân để chữa các bệnh:

Chữa bệnh đau bao tử, thừa nước chua, loét bao tử, chảy máu, ho lao lực, con nít chậm lớn, băng huyết.

Thuốc chữa mờ mắt, tai chảy mủ.

Dùng ngoài tán bột rắc lên vết thương để cầm máu.

Ngoài công dụng làm thuốc mai mực còn dùng để đánh cho sạch mặt kính bị bẩn vì mai mực làm sạch vết bẩn mà không làm sát kinh.

Ngày uống 4 - 6g dưới dạng thuốc bột hay thuốc viên.

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Viện Huyết học- Truyền máu TW có logo mới

Ngày 2/12/2019, Viện Huyết học - Truyền máu TW đã tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi Thiết kế logo và công bố logo mới của Viện.

Cuộc thi Thiết kế logo Viện Huyết học - Truyền máu TW được khởi động từ ngày 30/9/2019 là một trong những hoạt động quan trọng hướng đến kỷ niệm 35 năm thành lập Viện. Cuộc thi đã cuốn sự quan tâm của các nhà thiết kế chuyên và không chuyên đến từ nhiều địa phương trong cả nước.

Ban giám khảo cuộc thi gồm các chuyên gia của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và cán bộ của Viện Huyết học - Truyền máu TW đã chấm thi khôn cùng trang nghiêm, công minh

Sau một tháng khai triển, Ban tổ chức đã nhận được 309 tác phẩm dự thi của 110 tác giả. Với tiêu chí của logo là đẹp mắt, thiết kế đơn giản, hiện đại, dễ áp dụng, dễ nhớ, dễ nhận biết, dễ biểu thị trên mọi chất liệu, công tác chấm thi đã được các chuyên gia của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp cùng cán bộ của Viện thực hành nghiêm trang, công minh qua hai vòng sơ khảo và chung khảo.

Ban tổ chức đã quyết định trao giải Nhất cho tác phẩm của tác giả Chu Thị Kim Ngân, 2 giải Khuyến khích cho tác giả Khổng Văn Đại và Bùi Minh Hải. Tác phẩm đạt giải Nhất đã được hoàn thiện và trở thành logo chính thức của Viện.

Ban giám khảo cuộc thi gồm các chuyên gia của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và cán bộ của Viện Huyết học - Truyền máu TW đã chấm thi vô cùng nghiêm túc, công minh

Phát biểu tại Lễ trao giải Cuộc thi Thiết kế logo Viện, TS. Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu TW thổ lộ lời cảm ơn Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã hăng hái kết hợp, hỗ trợ Viện trong suốt quá trình tổ chức cuộc thi và các tác giả đã dành nhiều thời gian, ý tưởng và tâm lực thiết kế những tác phẩm logo đáp ứng với sứ mệnh và hoạt động của Viện.

Logo của Viện được thiết kế gồm 02 thành phần là tượng trưng phần chữ : biểu tượng được thiết kế theo nguyên lý không gian âm trong thiết kế logo và xếp đặt bố cục đối xứng giọt máu và các mầm cây. biểu trưng có sức lan toả (phần dương), hình tượng con người vươn lên hay hệ trọng đến chuỗi gen (phần âm) .

Logo của Viện được thiết kế hài hòa, cân đối gồm 02 thành phần là biểu trưng và phần chữ

Phần chữ gồm tên Viện và slogan. Tên Viện được biểu lộ ở cả tên viết tắt Tiếng Anh (NIHBT) và viết đầy đủ Tiếng Việt (Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương); dùng phông chữ không chân đơn giản, kiên cố và đương đại. Slogan sử dụng phông chữ VNI-Bulong, diễn đạt Viện luôn là điểm tựa, mang lại sức khỏe, trông sống và hạnh phúc cho cộng đồng.

Logo được thiết kế cân đối, hài hòa tạo thành "Cây đời” hay "Cây sự sống” với màu đỏ chủ đạo - màu của máu, mô tả Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương với sứ mệnh "Vì sức khỏe dòng máu Việt” chính là nơi tập trung của những tinh hoa trí thức về chuyên ngành Huyết học - Truyền máu, là nền tảng, là chỗ dựa kiên cố cho những bệnh nhân cần máu, đem đến sự sống, sự hồi sinh và tươi mới cho sức khỏe của người bệnh.

TS. Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng và PGS.TS. Đặng Mai Anh, Phó Hiệu trưởng cáng đáng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp (đứng giữa) trao giải cho tác giả có tác phẩm đạt Giải Nhất (đứng thứ 2 từ trái sang)

Ở giữa là hình giọt máu đầy đặn và hoàn chỉnh mô tả sự căng tràn nhựa sống, sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của Viện. Thân cây và lá cây phát triển theo hướng mở, biểu thị sự phát triển đa dạng của các chuyên ngành, các lĩnh vực, các hoạt động chuyên môn của Viện.

Đây là một bố cục hoàn chỉnh, các chi tiết tương hỗ lẫn nhau, diễn tả ý thức đoàn kết, mạnh mẽ về nội lực, tràn đầy tình ái thương, luôn hiên ngang, vươn lên tầm cao.

Nhìn theo chiều sâu, các đường giao nhau của từng chi tiết hiển hiện chuỗi gen - khởi thủy của sự sống. Điều này diễn tả vai trò của Viện là cầu nối giữa con người với con người, từ những người khỏe mạnh đến với những người bệnh - những người cần viện trợ; để rút cục, chúng ta sẽ có được một cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn từ những chuỗi gen hoàn chỉnh đó.

ThS. Lê Lâm, Phó Viện trưởng trao giải cho 2 tác giả có thiết kế đạt giải Khuyến khích

Logo cũng khẳng định Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương sẽ luôn vững vàng như một cây đại thụ, vì mỗi cán bộ, viên chức của Viện, vì cuộc sống cộng đồng, vì sức khỏe dòng máu Việt.

Thanh Hằng- Trương Hằng- Công Thắng

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

Thảo dược giảm triệu chứng đau răng

Có nhiều duyên cớ gây đau răng như sâu răng, viêm lợi, viêm xoang, vệ sinh răng miệng kém… Điều trị đau răng phải điều trị từ duyên cớ. Tuy nhiên, một số loại thảo dược có thể giúp bạn giảm các triệu chứng đau răng.

1. Lá bạc hà

Các nghiên cứu chỉ ra rằng lá bạc hà có tác dụng giảm đau răng. Dầu bạc hà cũng là một chọn lựa khác. Khi bị đau răng, hãy nhai 2-4 lá bạc hà cho tới khi nước lá tiết ra phủ lên khu vực bị đau. Súc miệng sau 10 phút với nước ấm.

thao-duoc-giam-trieu-chung-dau-rang

Bạc hà là một trong những thảo dược giảm đau răng hiệu quả

2. Đinh hương

Loại thảo dược này từ lâu đã được dùng để chữa đau răng. Nó chứa eugenol, có tác dụng giảm đau nhẵn. Nhai vài nhánh đinh hương hoặc nghiền thành bột và đắp vào khu vực bị đau. Các thuộc tính kháng khuẩn cũng ngăn ngừa nhiễm trùng răng.

3. cải bắp

Nghiền nát lá bắp cải, nhẹ nhàng đắp nó lên khu vực nướu và răng bị đau. Lá cải bắp có tác dụng khử các chất độc trên nướu và giảm đau răng hiệu quả.

4. Gừng

Cạo vỏ gừng và thái lát. Sau đó nhai những lát gừng này đắp vào khu vực bị đau. Bạn sẽ cảm thấy giảm đau tức thì.

5. Cỏ xạ hương

Với tính chất kháng khuẩn, kháng nấm, khử trùng và chữa bệnh, xạ hương là một trong các bài thuốc thảo dược tốt nhất chữa đau răng. Bạn có thể dùng nó với tinh dầu bạc hà để có kết quả nhanh hơn.

6. Cỏ thi

Nếu bạn bị đau răng và mất ngủ buổi tối, nhai vài lá cỏ thi tươi và đắp lên khu vực đau. Nó sẽ giúp bạn giảm đau nhanh chóng.

7. Cây cúc áo

Tuy không phổ quát, nhưng hoa của cây này có thể làm dịu cơn đau răng của bạn.

BS. Tuyết Mai/Univadis

( theo Boldsky )

Bài thuốc chữa thống phong

Bệnh do phong, hàn và thấp làm ảnh hưởng đến công năng của Can, Thận và Tỳ gây khí trệ huyết ứ và đàm trọc ách trở sinh bệnh. Sau đây là một số đơn thuốc chữa bệnh theo các thể.

Thể phong thấp nhiệt: Người bệnh đau khớp đột ngột, thường vào lúc nửa đêm, có khi phát sốt. Tại chỗ khớp: sưng nóng đỏ đau, cự án; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền sác. Phép chữa: Thanh nhiệt trừ thấp, tiết trọc thông lạc. Dùng bài Thanh trọc thống tý thang: nhẫn đông đằng 30g, hoàng bá 15g, ý dĩ 24g, thổ phục linh 24g, huyền sâm 16g, đương quy 12g, một dược 10g, ngưu tất 12g, phòng kỷ 12g, tần giao 12g, thất diệp 24g. Sắc uống.

Thể khí trệ trọc ứ: Người bệnh sưng đau khớp, không đi lại được, hay tái phát, bệnh kéo dài dằng dai, người mệt mỏi, ngực sườn đầy tức. Lâu ngày khớp xương xơ cứng biến dạng, lưỡi ám tối, rêu lưỡi trắng dày; mạch huyền hoạt sác. Phép chữa: Hành khí hoạt huyết, thông lạc trừ ứ. Dùng bài Trừ ứ thông lạc thang: hoàng kỳ 30g, thương truật 15g, ý dĩ 24g, tỳ giải 24g, mao đông thanh 24g, xuyên sơn giáp 10g, đương quy 12g, ngưu tất 15g, xích thược 15g, uy linh tiên 15g, trần bì 6g, xuyên khung 8g. Sắc uống.

Thể tỳ hư trọc ứ: Người bệnh đau khớp ê ẩm, cử động không linh hoạt, thuộc hạ tê bì, nổi u cục, người mỏi mệt, vô lực; tâm quý, khí đoản, buồn nôn; chất lưỡi hồng nhạt có dấu răng; rêu lưỡi trắng nhạt; mạch trầm hoãn tế sáp. Phép chữa: Kiện tỳ tiết trọc, trừ ứ thông lạc. Dùng bài Phòng kỷ hoàng kỳ thang gia vị: hoàng kỳ 24g, phòng kỷ 12g, bạch truật 12g, ý dĩ 24g, cam thảo 6g, tỳ giải 24g, thổ phục linh 24g, tàm sa 12g, xích thược 12g. Sắc uống.

Thể thận hư trọc ứ: Bệnh kéo dài lâu ngày dai dẳng, khớp biến dạng nổi u cục, có biến chứng tại thận (viêm thận, sỏi thận), đau đầu huyễn vựng, tiểu tiện ít, tâm quý, phù thũng; lưỡi đỏ, rêu ít; mạch trầm huyền sáp. Phép chữa: Bổ thận tiết trọc, trừ ứ thông lạc. Dùng:

Bài 1 - Lục vị địa hoàng hoàn gia vị: thục địa 24g, sơn dược 12g, phục linh 15g, sơn thù 12g, trạch tả 10g, đan bì 10g, ích mẫu thảo 24g, xa tiền thảo 24g, đỗ trọng 12g, hoàng kỳ 24g. Sắc uống.

Bài 2 - Đào hồng tứ vật gia giảm: sinh địa 24g, xích thược 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g.

TS. Nguyễn Đức Quang

Bộ Y tế khuyến cáo 5 biện pháp cần làm ngay để không mắc bệnh trong mùa đông xuân

Đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa như , sởi, rubella, ho gà, não mô cầu, thuỷ đậu, các bệnh cúm, đi tả, liên cầu lợn...

Theo thống kê của Bộ Y tế trong 10 tháng đầu năm 2019, hồ hết các dịch bệnh truyền 4 nhiễm có khuynh hướng giảm so với cùng kỳ năm 2018; riêng theo chu kỳ nên số mắc, số chết tăng so với cùng kỳ; số mắc tay chân miệng tăng 0,5%.

Các chuyên gia nhấn mạnh, công tác buồng dịch bệnh là vô cùng quan yếu. Tuy nhiên, nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa tự giác dự các hoạt động phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng. Chính quyền một số địa phương chưa quan hoài, chưa quyết liệt chỉ đạo các biện pháp phòng dịch bệnh...

Trong thời gian tới, mùa Đông - Xuân lạnh hơn so với các khu vực khác, thành thử làm gia tăng khả năng bùng phát các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa như bệnh thuộc cấp miệng, sởi, rubella, ho gà, viêm màng não do não mô cầu, các bệnh cúm gia cầm độc lực cao, cúm A(H7N9), A(H5N1), ỉa chảy do vi rút Rota…

Để chủ động buồng dịch bệnh mùa đông xuân, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người dân cần quan hoài, chủ động thực hành các biện pháp nâng cao sức khỏe, phòng dịch bệnh như sau:

- Tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch (đối với các bệnh có vắc xin phòng bệnh như: sởi, rubella, ho gà, não mô cầu, thủy đậu, cúm …).

- Giữ ấm cơ thể khi thời tiết chuyển lạnh; ủ ấm cho con nít khi đi xe máy, khi ra ngoài trời; khi làm việc ngoài trời, ra ngoài trời vào ban đêm, sáng sớm phải mặc đủ ấm, lưu ý giữ ấm bàn chân, bàn tay, ngực, cổ, đầu.

- Tránh xúc tiếp với những người đang có dấu hiệu bị các bệnh lây đường hô hấp như sởi, rubella, ho gà, não mô cầu, thủy đậu, cúm ...

- Đảm bảo an toàn thực phẩm, ăn chín, uống chín, ăn uống đủ chất, đủ dinh dưỡng, ăn nhiều hoa quả để giúp cơ thể tăng cường vitamin, nâng cao sức đề kháng. Ăn cân đối các nhóm dưỡng chất: tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng vật.

- bảo đảm vệ sinh cá nhân chủ nghĩa, liền tù tù rửa tay với xà phòng, vệ sinh mũi, họng hàng ngày. thực hành tốt vệ sinh môi trường, vệ sinh gia đình, dùng chuồng tiêu hợp vệ sinh.

Khi có các dấu hiệu nghi bị bệnh lây nhiễm cần thông báo ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và điều trị kịp thời.

D.Hải

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Biện pháp ngăn ngừa sỏi thận

Bệnh sỏi thận do nhiều duyên do gây ra và có thể thấy trong đường tiểu từ thận đến niệu quản (ống nối từ thận đến bàng quang) và ở bóng đái. Sỏi thận phổ biến ở những nước nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam. Chúng thường hình thành khi nước đái lắng cặn khiến các khoáng chất kết dính lại với nhau.

Hầu hết các loại sỏi thận đều thoát ra ngoài một cách thiên nhiên và có thể khiến người bệnh rất đau. Nếu được phát hiện sớm, sỏi thận sẽ không gây ra các tổn hại lâu dài và quan trọng là người bệnh được điều trị kịp thời để tránh các biến chứng sau này.

Quá trình hình thành sỏi và triệu chứng của bệnh

Thận là cơ quan giữ cân bằng nước cho cơ thể, đồng thời là nơi loại bỏ và đào thải những chất thải độc hại cho cơ thể qua đường tiểu. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, thay vì các chất độc hòa tan vào nước giải và đào thải ra ngoài thì nó lắng đọng lại và tạo thành sỏi trong thận. Tùy thời kì, vị trí và độ lắng đọng mà kích thước sỏi lớn nhỏ khác nhau.

Sỏi hình thành, chuyển di ở bất cứ vị trí nào trên đường đi của nước tiểu và được gọi là sỏi thận, sỏi niệu quản hay sỏi bàng quang. Quá trình hình thành và phát triển của sỏi không có triệu chứng rõ nên người bệnh không hay biết gì cho đến khi viên sỏi lớn gây đớn đau, tiểu ra máu, mủ hay đi tiểu ra sỏi mới biết. Bệnh sỏi thận là một bệnh phổ biến bây giờ, do nếp ngồi nhiều, ngại uống nước hoặc do uống thuốc, sữa bổ sung canxi...

Hình ảnh sỏi thận.

Hình ảnh sỏi thận.

Các loại sỏi và nhân tố nguy cơ

Có nhiều yếu tố gây sỏi, trong đó phải kể đến gene di truyền: nếu gia đình bạn mang gene này, bạn có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn; thiếu nước - sống tại nước có khí hậu nhiệt đới, không uống đủ nước, ra mồ hôi nhiều; chế độ ăn - ăn quá nhiều protein, muối hoặc đường; béo phì; Một số loại thuốc hoặc đã trải đời qua giải phẫu... bình thường, người ta chia ra các loại sỏi sau:

Sỏi can-xi: đây là loại sỏi thận phổ thông nhất, thường là canxi oxalate xảy ra thiên nhiên trong nhiều loại thực phẩm như một số loại rau quả, hạt, sô-cô-la, vitamin D liều cao có thể làm tăng nguy cơ mắc loại sỏi này. thường nhật, sỏi canxi cứng, có nhiều dạng hình, kích thước, mật độ khác nhau.

duyên cớ chính là tình trạng nước tiểu quá bão hòa về muối canxi do tăng tiếp nhận canxi ở ruột hoặc tăng tái hấp thụ canxi ở ống thận. Xét nghiệm nước tiểu sẽ thấy canxi niệu tăng cao. Bình thường, thận đào thải khoảng 300mg canxi qua nước giải trong 1 ngày, trong trường hợp nước tiểu bị quá bão hòa về muối canxi, lượng canxi đào thải qua nước tiểu có thể tăng lên 800 - 1.000mg trong 24h với chế độ ăn thường ngày. ngoại giả, thức ăn chứa nhiều oxalat hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này hoặc ở người bị viêm ruột, cắt một phần ruột non, người có rối loạn chuyển hoá. Những loại rau có hàm lượng oxalat cao bao gồm: cần tây, tỏi tây, củ cải, rau cải, khoai lang, đậu xanh, đậu tương, bí, ớt, cà tím, măng tây, đào lộn hột, rau diếp, nho, mận và trà...

Sỏi struvite: là loại sỏi nhiễm trùng đường tiết niệu, chiếm khoảng 10% các loại sỏi thận. Người ta thấy sự xuất hiện sỏi struvite hầu như luôn luôn đi kèm với tình trạng tắc nghẽn hay nhiễm trùng đường tiểu. bởi thế, trong trường hợp này, việc dùng kháng sinh được xem là một bước bắt, chẳng thể thiếu trong quá trình điều trị.

Sỏi axit uric: ở người không uống đủ nước, nhiều mồ hôi và người có chế độ ăn nhiều protein, chiếm khoảng 10% các trường hợp sỏi thận. Sỏi axit uric không cứng và cũng không dễ phát hiện bằng tia X như sỏi canxi. nguyên cớ là do nước giải quá bão hòa acid uric tạo điều kiện gây sỏi urat và thường có tăng acid uric niệu đi kèm. Sỏi acid uric gặp trong tăng acid uric máu, bệnh gout, trong một số trường hợp di truyền, béo phì, những người tiểu đường kháng insulin. Người bệnh cần giảm ăn những thức ăn quá nhiều đạm.

Sỏi Cysteine: hình thành ở người mắc chứng rối loạn di truyền, những người với tiền sử gia đình có người mắc bệnh có nguy cơ cao bị mắc loại sỏi này.

Điều trị sỏi thận ít đau đớn và hiệu quả

Tùy theo kích tấc, vị trí và biến chứng của sỏi gây ra mà có các chỉ định can thiệp lấy sỏi khác nhau. Chính vì những biến chứng hiểm mà sỏi thận gây ra nên có những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, đái ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận.

Về điều trị sỏi thận, cần uống nhiều nước, đảm bảo lượng nước tiểu khoảng trên 2,5 lít/ngày; điều trị các đợt nhiễm khuẩn, viêm nhiễm ở thận; điều trị các biến chứng hay các nhân tố thuận lợi dễ hình thành sỏi. hiện tại, có nhiều phương pháp can thiệp lấy sỏi như: mổ lấy sỏi, tán sỏi ngoài cơ thể và nội soi lấy sỏi, nội soi tán sỏi qua da...

Để được chữa trị kịp thời, bệnh nhân nên đi khám ngay khi thấy một trong các dấu hiệu thận có sỏi như: đau vùng bụng giữa xương sườn và hông, đau ở giữa lưng, tiểu buốt, có mùi hôi hoặc tiểu ra sỏi, tiểu ra máu. Khám và phát hiện ra sỏi sớm để quá trình điều trị dễ dàng hơn. Nếu sỏi nhỏ, có thể chỉ cần tăng cường uống nước để đào thải ra ngoài. Sỏi lớn có thể phải mổ để lấy sỏi.

đề phòng cách gì?

Cách Dự phòng rẻ nhất và hữu hiệu nhất là nên uống nhiều nước, ít ra là 2 lít/ngày. Người bệnh cần hạn chế thực phẩm chứa nhiều canxi (như sữa bò, các sản phẩm chế biến từ đậu, ốc, cua, tôm, rau câu, rau cần) và các loại thực phẩm có hàm lượng axit oxalic tương đối cao như táo, tỏi, hành tây, cà phê, ca cao, nước chè...

Những thực phẩm nên dùng: người bị sỏi axit oxalic có thể ăn các loại thịt gà, vịt, thịt nạc, cá, trứng, nho... Người bị sỏi phốt-pho canxi hoặc axit cacbonic nên ăn đồ chua để nước đái có tính axit làm tan sỏi. Riêng người bị sỏi axit uric nên ăn nhiều rau quả tươi, sữa. Không nên ăn óc, tủy, xương, nội tạng động vật, súp-lơ... Không nên uống rượu, cà phê. ngoại giả, cần tập thể dục nhẹ nhàng như đi bộ, đi xe đạp để kích thích việc thải sỏi ra ngoài. Việc kết hợp chế độ dinh dưỡng và luyện tập đúng đắn sẽ giúp thu được kết quả chóng vánh hơn.

Người mắc bệnh sỏi thận nếu không điều trị kịp thời có thể có những biến chứng nguy hiểm, âm thầm vì viên sỏi sẽ to lên và cản ngăn đường bài tiết nước tiểu, làm cho chức năng thận hư hại dần. bởi thế, khi có những triệu chứng như trên thì nên đi khám ngay.

Vì hơn một nửa số người đã từng bị sỏi thận sẽ tái phát nên cách tốt nhất là thay đổi cách sống, đặc biệt là khẩu phần ăn và thói quen tập thể dục. Ngoài ra, nếu đã bị sỏi canxi, có thể cần phải giảm lượng thức ăn chứa nhiều oxalate, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô-cô-la, chè, rau chân vịt, các loại quả mọng như dâu tây. Ăn kiêng với chế độ ăn ít chất đạm cũng làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận.

BS. Đình Dương

Bài thuốc chữa viêm chân răng

Viêm chân răng ít khi gây đau và có biểu đạt như sưng nhẹ, đỏ ở lợi hoặc chảy máu khi đánh răng. căn nguyên thường gặp do nhiễm khuẩn tại chỗ, những vi khuẩn trong mảng bám răng lâu ngày dày lên thành cao răng gây chảy máu chân răng và hôi miệng.

Theo y học cổ truyền, bệnh do ngoại cảm phong tà phối hợp với phong nhiệt gây nên bệnh cấp tính. Bệnh kéo dài lâu ngày vị âm hư, thận âm hư, dạ dày tích nhiệt, thận hư hỏa vượng tân dịch giảm, vi khuẩn đục chân răng gây nên thành bệnh kinh niên. Viêm chân răng.

Viêm chân răng.

Cách tốt nhất để phòng bệnh viêm chân răng là chải răng sau khi ăn sẽ giúp làm sạch mảng bám răng. Định kỳ soát răng tại các phòng khám răng hàm mặt 6 tháng/ lần để làm sạch răng và phát hiện sớm các bệnh vùng họng miệng. Khi bị viêm chân răng, bạn có thể dùng một trong số những bài thuốc đông y sau tùy theo từng thể bệnh để điều trị:

Thể cấp tính:

diễn tả: Lợi bị sưng, phù nề, đau, ấn mạnh có thể ra mủ, nếu đau nặng có thể gây sốt, ăn uống kém, đi ngoài táo, có hạch ở dưới hàm.

Phương pháp điều trị: Sơ phong, thanh nhiệt, tiêu thũng.

Bài thuốc: Dùng một trong số bài thuốc sau, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 1: ngưu bàng tử 12g, bạc hà 8g, hạt khô thảo 16g, kim ngân hoa 16g, bồ công anh 20g, gai bồ kết 8g.

Bài 2: ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, hạt khô thảo 8g, chi tử 12g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, tạo thích giác 20g, xuyên sơn giáp 6g.

Bài 3: thăng ma 4g, hoàng liên 8g, sinh địa 20g, đan bì 8g, thạch cao 40g, kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, ngưu bàng tử 12g, bạc hà 8g.

Thể mạn tính:

biểu thị: Lợi có cảm giác mềm hơn thường nhật, đỏ, có mủ chân răng, răng lung lay, hơi thở hôi, họng khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế sác.

Phương pháp điều trị: Dưỡng âm thanh nhiệt.

Bài thuốc: Dùng 1 trong 2 bài thuốc sau, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 1: sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sa sâm 12g, bạch thược 8g, kỷ tử 12g, kim ngân hoa 16g, quy bản 12g, ngọc trúc 12g.

Bài 2: thục địa 12g, sơn thù 8g, hoài sơn 12g, trạch tả 8, đan bì 8g, phục linh 8g, tri mẫu 8g, hoàng bá 8g, ngọc trúc 12g, thăng ma 12g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g.

ThS. Phạm Đức Dương